(Bài viết được truyền cảm hứng từ những trăn trở và quan điểm kiên định của Martin Scorsese - nhà làm phim huyền thoại, đạo diễn Mỹ gốc Ý, người cả đời bền bỉ gìn giữ và bảo vệ giá trị đích thực của điện ảnh.)
Hình ảnh là vị đạo diễn đáng kính Martin Scorsese góp mặt vài giây trong phim Hugo (2011) | Credits: GK Films, Infinitum Nihil.
"Hugo" hay bản tình ca điện ảnh dành cho tuổi thơ.
Ngay từ những khung hình đầu tiên, Hugo dẫn người xem vào thế giới nhiệm màu ở ga xe lửa Gare Montparnasse: đồng hồ cổ kính, chuyến tàu lửa lao vun vút, ánh sáng vàng ấm phủ lên kinh đô Paris. Trong trí tưởng tượng của Martin Scorsese, thành phố hiện lên vừa thơ mộng, lung linh, vừa cổ điển, tráng lệ, như một câu chuyện cổ tích được viết bằng ngôn ngữ điện ảnh.
Phim kể về Hugo Cabret (Asa Butterfield), cậu bé mồ côi sống lặng lẽ giữa những bánh răng đồng hồ, mang trong mình ước nguyện khôi phục lại cỗ máy người sắt tự động của người cha quá cố để lại. Trên hành trình ấy, Hugo tình cờ gặp cô bạn Isabelle (Chloë Grace Moretz) và cả hai cùng bước vào hành trình khám phá ra bí mật của Georges Méliès (Ben Kingsley) - nhà ảo thuật và bậc thầy điện ảnh tiên phong của nước Pháp một thời nay bị lãng quên, ẩn mình sau tiệm đồ chơi. Những thước phim tưởng đã mất được hồi sinh, để Méliès, như một cỗ máy cũ kỹ được đại tu, tìm lại chính mình.
Hugo là tác phẩm hiếm hoi Scorsese dành tặng riêng cho trẻ thơ, nhưng vẫn đậm đặc ngôn ngữ điện ảnh.Tác phẩm dẫn đầu Oscar 2012 với 11 đề cử và thắng 5 giải quan trọng về hình ảnh và âm thanh, khẳng định vị thế như một kiệt tác thị giác. Diễn xuất của Ben Kingsley để lại ám ảnh sâu sắc, khi ông hóa thân thành người nghệ sĩ từng cay đắng tin rằng “kết thúc có hậu không tồn tại ngoài đời thực.” Nhưng chính bộ phim này đã trao cho ông một cái kết có hậu: sự hồi sinh trong ký ức điện ảnh nhân loại.
Hơn cả một câu chuyện thiếu nhi, Hugo là lời tri ân tha thiết của Scorsese dành cho Georges Méliès và cho lịch sử điện ảnh. Một tác phẩm chậm rãi, không nhiều cao trào, nhưng chứa đựng chiều sâu nhân văn: rằng đôi khi, hạnh phúc giản dị nhất chính là được nhìn thấy nghệ thuật sống mãi với thời gian.
Trong The New York Times năm 2019, ông cảnh báo nguy cơ khi nghệ thuật bị biến thành món hàng/commodity. Đến tiểu luận năm 2021 tôn vinh di sản của bậc thầy điện ảnh Federico Fellini, ông tiếp tục bi quan về tương lai điện ảnh khi các hãng truyền thông đa phương tiện không ngừng đặt thương mại hóa ngành giải trí lên trên tác phẩm nghệ thuật. Trước đó, tại Liên hoan phim TCM, Hollywood 2018, khi nhận Giải thưởng Robert Osborne, Scorsese nhấn mạnh rằng: điện ảnh, loại hình đã đạt tầm vóc nghệ thuật trong suốt 100 năm qua, không thể bị giản lược thành thứ “content” tiêu dùng trong "danh mục bán hàng" của các tập đoàn truyền thông đa phương tiện.Theo Luật Điện ảnh Việt Nam phù hợp thông lệ quốc tế, “điện ảnh là ngành nghệ thuật tổng hợp, áp dụng công nghệ nghe nhìn và thủ pháp sáng tác để sản xuất phim”. Phim ảnh là tác phẩm điện ảnh có câu chuyện được kể bằng ngôn ngữ điện ảnh với sự giao thoa của nhiều thủ pháp nghệ thuật gồm diễn xuất, sắp đặt ánh sáng, âm thanh, nhịp điệu, góc máy, v.v. đậm đặc hàm lượng nghệ thuật. Phim có thể đến với khán giả qua rạp chiếu, truyền hình hay nền tảng số, nhưng nếu thiếu yếu tố nghệ thuật đặc thù, nó chỉ còn là “content” thương mại giải trí, đánh mất bản chất của điện ảnh mà Scorsese đã nhiều lần cảnh báo.
Muốn hiểu lịch sử điện ảnh thế giới, không thể bỏ qua kiệt tác 8½ (tám phút rưỡi) (1963) của bậc thầy vĩ đại Federico Fellinia. Tác phẩm được tạp chí điện ảnh Anh uy tín "Sight and Sound" bình chọn trong giới phê bình quốc tế là "một trong số ít những bộ phim có tầm ảnh hưởng và vĩ đại nhất mọi thời đại".
&
*/*
Từ những tấm màn nhung sẫm màu của sân khấu kịch xưa cũ ở London, nơi ánh đèn vàng hắt xuống từng hạt bụi bay trong không khí, đến những khung hình trầm lặng của điện ảnh arthouse ở châu Âu hay Hollywood và châu Á, lịch sử đã chứng kiến bao nghệ sĩ chọn con đường bền bỉ và trung thực. Họ tin rằng nghệ thuật chỉ thực sự sống khi người làm nghề nghiêm túc, tôn trọng khán giả và trung thành với giá trị sáng tạo, cho dù con đường ấy gập ghềnh, lặng lẽ và không trải đầy hoa hồng.
Có những diễn viên không chỉ hóa thân trên sân khấu hay màn ảnh, mà còn lặng lẽ gìn giữ tinh hoa nghệ thuật trong từng bước đi, từng ánh mắt, cử chỉ và giọng thoại, để rồi những dư âm tinh tế của một đời cống hiến còn vang vọng mãi.
Danh tiếng của họ, trong mắt khán giả, chỉ là dư hoa của thành quả lao động chân thực và nỗ lực sáng tạo rực cháy qua vô số những vai diễn biến hóa đa dạng, đậm đặc sắc thái tâm lý, chứ không phải sản phẩm “siêu sao đơn màu” từ sự bơm thổi truyền thông hào nhoáng.
Và nếu chúng ta lắng nghe, họ sẽ kể về “nghiệp diễn” như một công việc hết sức bình thường, nhưng trong từng lời, người nghe lại thấy lấp lánh trong ánh mắt họ một tâm hồn trung thành với nghệ thuật sáng tạo thuần khiết, khắc sâu vào ký ức khán giả bằng ấn tượng sống động và nhiều điều đáng học hỏi về tinh thần lao động nghiêm cẩn, nỗ lực mài giũa bằng mồ hôi và chí khí mỗi ngày, cùng tấm lòng đam mê lớn lao dành cho “công việc diễn xuất sáng tạo”.
Anthony Hopkins &
Filmography, "vũ trụ nhập vai" [danh sách không đầy đủ].
từ hoàng tử và vua Richard the Lionheart trong The Lion in Winter (1968) khắc họa bi kịch của quyền lực và tình thân; Hit*ler điên loạn nhưng nhiều chiều kích trong The Bunker (1981) chạm đến bóng tối tận cùng của lịch sử; “thằng gù” Quasimodo trong The Hunchback of Notre Dame (1982) thể hiện nỗi đau của thân phận bị bỏ rơi và mối tình si đầy thống khổ. Đến sự tán dương nồng nhiệt từ giới phê bình và khán giả khi hóa thân thành một tay bác sĩ ă*** Hannibal Lecter trong The Silence of the Lambs (1991), được Viện Điện ảnh Mỹ (AFI) xếp hạng là “á*c nhâ*n điện ảnh số một” mọi thời đại, “một con quá*i vậ*t mang màu sắc Shakespeare”. Sau đó, Hopkins tiếp tục thử sức với những nhân vật đa chiều như Stevens, người quản gia tận tụy nhiều ẩn ức, bi kịch trong The Remains of the Day (1993) gợi lên tinh thần nước Anh thời kỳ ấy với nỗi u hoài, cảm giác mất mát khi thế giới cũ bị nghiền nát bởi những cuộc Thế chiến và một trật tự mới hình thành; từ Tổng thống Mỹ Nixon đến danh họa Picasso hay đạo diễn quái kiệt Alfred Hitchcock, nhà tâm lý học nổi tiếng Sigmund Freud trong “Freud's Last Session” hay “nắm bắt được trái tim của bi kịch Shakespeare cổ điển” khi hóa thân thành vị vua Lear già nua run rẩy giữa bóng chiều tàn của quyền lực trong tác phẩm chuyển thể hiện đại King Lear (2018), v.v., và mới nhất Hopkins ở tuổi 87 vẫn cống hiến cho công chúng vai diễn xuất sắc Herod Đại Đế, một bạo chúa nhỏ nhen, nặng nề danh dự giả tạo và nhiều căng thẳng trong phim “Mary” của Netflix với chủ đề vốn luôn gợi nhiều tranh luận, v.v.
- “But I guess it is a creative process; acting is a creative process and directing and music,” “I think creative people – and I take myself as a creative person, and it doesn’t mean you have to be an actor, a musician, or a painter.” “But I think if you are in a creative profession or a creative business, you do have a heightened awareness.”. “It doesn’t make you special, though.”




No comments:
Post a Comment